Chiếc cối xay tiêu

Chiếc cối xay tiêu Bác Tôn mua ở Liên Xô (cũ) năm 1955, tặng bác gái không lớn về giá trị vật chất nhưng lại có ý nghĩa bảo tàng to lớn mà hiện nay Bảo tàng Tôn Đức Thắng chưa thể sưu tầm được. Vì vậy, Bảo tàng mong mỏi nhận được sự quan tâm từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có thông tin hoặc có chiếc cối xay tiêu đồng thời với chiếc cối xay tiêu của Bác Tôn (hay các hiện vật khác có liên quan đến Bác Tôn) xin được trao tặng cho Bảo tàng Tôn Đức Thắng để phục vụ cho hoạt động trưng bày, giới thiệu về cuộc sống đời thường của Chủ tịch Tôn Đức Thắng.

Với Bảo tàng Tôn Đức Thắng chiếc cối xay tiêu bằng gỗ do Liên Xô (cũ) sản xuất vào thập niên năm mươi của thế kỷ trước là một hiện vật quý giá.

Lịch sử chiếc cối xay tiêu:

Ngày 9/12/1955, Ủy ban định Giải thưởng Hòa bình Quốc tế Stalin (về sau được đổi thành Giải thưởng Hòa bình Quốc tế Lênin) ra quyết định tặng Giải thưởng Hòa bình Quốc tế Stalin cho đồng chí Tôn Đức Thắng - Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy viên Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam.

Ngày 21/1/1956, tại điện Kremli đã diễn ra lễ Trao tặng Giải thưởng Hòa bình Quốc tế Stalin năm 1955 cho 06 chiến sĩ trong phong trào hòa bình thế giới, trong đó có Bác Tôn.

Trong 03 ngày ở thăm Matxcơva, Bác Tôn đã nhờ bác sĩ Trần Hữu Nghiệp - một thành viên trong đoàn, mua một món quà về tặng bác Tôn gái. Bác Tôn nói: “Tánh tôi ưa ăn nhất là cá kho tộ bỏ nhiều tiêu. Chiều nào vợ tôi cũng đem tiêu hột ra đâm trong chén, văng tùm lum ra ngoài. Mắt vợ tôi đã kém nên cứ mò mò lượm từng hột bỏ vô chén. Vậy anh tìm mua cho tôi một cái cối xay tiêu về tặng chắc là vợ tôi mừng lắm”. Chiếc cối xay tiêu nhỏ nhắn giá chỉ có 7 rúp đã được mua tại cửa hàng bách hóa tổng hợp Matxcơva là món quà nhỏ nhưng chứa đựng tình cảm thương yêu sâu sắc của Bác Tôn đối với bác gái - người bạn đời hết mực thủy chung, son sắt, hết lòng hy sinh cho sự nghiệp của chồng và các con. Chiếc cối xay tiêu vẫn được các con của Bác Tôn dùng để thay mẹ chăm sóc cha sau khi bác gái qua đời (ngày 25/5/1974).

Bác Tôn gái - bà Đoàn Thị Giàu (tên thường gọi là cô hai Oanh) về làm vợ Bác Tôn qua thư giới thiệu của người em trai tên là Đoàn Công Sở, tên thường gọi là ba Sứ - người cùng đi lính thợ tại Pháp với Bác Tôn và đã qua đời tại Pháp. Đám cưới của Bác Tôn được tổ chức tại quê vợ vào năm 1921 (xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang), sau đó cô Hai Oanh theo chồng về Sài Gòn ở tại ngôi nhà gần cầu Kiệu và làm thợ may vừa để có tiền sinh sống vừa giúp Công hội bí mật (do Bác Tôn sáng lập) có kinh phí hoạt động. Năm 1927, Bác Tôn bị thực dân Pháp bắt và kêu án 20 năm khổ sai lưu đày Côn Đảo. Thương người vợ hiền khổ cực, Bác Tôn viết một lá thư khuyên vợ đi lấy chồng khác. Ít lâu sau Bác Tôn nhận được thư của vợ với nội dung: “Anh Tôn Đức Thắng thân mến, xin báo để anh biết, tôi đã đi lấy chồng, chồng tôi tên là Tôn Đức Thắng, người Long Xuyên. Chúng tôi ăn ở với nhau đã có ba mụn con: 1 trai, 2 gái, đứa con trai chẳng may sớm qua đời. Tôi sẽ trọn đời sống cùng chồng tôi mặc dù anh ấy đang phải tù đày nơi hải đảo xa xôi”. Trong thời gian Bác Tôn bị tù đày, Bác gái một mình tần tảo nuôi hai con lúc ở Sài Gòn, lúc về Mỹ Tho có khi sang tận Phnom Penh để làm thuê, làm mướn. Tháng 9/1945, Bác Tôn từ Côn Đảo trở về chỉ gặp mặt vợ trong chốc lát rồi lại tiếp tục đi kháng chiến và ra miền Bắc vào đầu năm 1946 cùng với hai người con gái. Bác gái ở lại miền Nam tham gia hoạt động cách mạng tại Chi bộ văn phòng Tỉnh ủy Mỹ Tho cho đến năm 1954 tập kết ra miền Bắc. Từ đây hai bác mới được sống gần nhau khi Bác Tôn đã bước vào tuổi 66 còn bác gái đã 58 tuổi.

Hình ảnh và một số thông tin về chiếc cối xay tiêu của Bác Tôn:
 



- Chất liệu: thân bằng gỗ, phần xay tiêu bằng kim lọai.
-  Kích thước: chiều cao 10cm; đường kính đáy 5,6cm.
 

Các tin khác